Nhà thơ Tố Hữu Người cộng sản kiên trung, nhà văn hoá tài năng

Tóm tắt tiểu sử

 

 Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày   4/10/1920 tại Hội An. Cha ông – cụ  Nguyễn Trần   Nghi là một công chức nhỏ trong tòa khâm sứ tỉnh Quảng Nam. Tố Hữu sống tại Hội An cho tới cuối 1928. Sau đó Ông cùng gia đình rời Hội An về Huế.

Cuối 1931, Tố Hữu cùng mẹ – cụ Phan Thị Cẩn vào Đà Nẵng. Ông mất mẹ khi vừa 12 tuổi. Chính nỗi đau sớm mồ côi mẹ đã khiến nhà thơ có một tình cảm đặc biệt mỗi khi viết về người Mẹ.

Năm 1934, Tố Hữu thi đỗ vào trường Quốc học Huế với học bổng toàn phần.

Năm 1936,Tố Hữu vào Thanh niên Cộng sản đoàn, hoạt động trong phong trào học sinh Huế.

Năm 1937, Ông tham gia Đảng Cộng sản Đông Dương, được cử vào thành ủy Huế, phụ trách tuyên huấn.

Tháng 4/1939, Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt và kết án 2 năm tù giam tại Huế. Do đấu tranh chống tra tấn, ông bị tăng án và đày lên Lao Bảo, Buôn Mê Thuột, Qui Nhơn và trại tập trung Đaklay.

Tháng 3/1942, Tố Hữu vượt ngục, tìm bắt liên lạc với Đảng ở Trung bộ, rồi Hà nội. Tháng 7/1942 ông tới Thanh Hóa, xây dựng cơ sở Đảng, thành lập Việt Minh. Ông được cử làm bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa từ năm 1943 tới năm 1945. Ông  tham gia thành lập chiến khu Quang Trung (gồm 3 tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình); chủ biên tờ báo Đuổi giặc nước.

Tháng 5/1945 theo điều động của Đảng, Tố Hữu tham gia Hội nghị lãnh đạo khởi nghĩa Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình.

Tháng 8/1945 với cương vị Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên Huế, Ủy viên thường trực xứ ủy Trung kỳ, Ông lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền tại Huế.

Lúc hoạt động bí mật, cũng như trong tù, thơ Tố Hữu lần lượt ra đời. Những bài thơ viết trên lá đã vượt song sắt ra ngoài để đăng báo và truyền miệng trong quần chúng. Tập „Thơ Tố Hữu“ sau  đổi thành “Từ ấy” ra đời trong thời kỳ này.

Đầu 1946 Trung ương điều Ông ra Hà Nội làm công tác văn hóa, tập hợp văn nghệ sỹ theo kháng chiến.

Cuối 1946, Tố Hữu trở lại Thanh Hóa, tiếp tục là Bí thư tỉnh ủy.

Tháng 8/1947, Tố Hữu lập gia đình với cô cán bộ cách mạng trẻ vừa rời trường nữ sinh Đồng Khánh Huế – bà Vũ Thị Thanh. Bà là người vợ, người bạn, người đồng chí tận tụy, thủy chung theo ông suốt cuộc đời.

Cuối 1947 Trung ương điều Ông lên Việt Bắc phụ trách văn hóa văn nghệ.

Đầu năm 1949 Ông cùng nhiều văn nghệ sỹ đầu quân.

Tháng 2/1951, tại đại hội Đảng lần thứ II, Tố Hữu được bầu là ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung Ương Đảng, phụ trách công tác tuyên truyền, văn hóa.

Tháng 5/1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Tố Hữu cùng Trung ương về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Giã từ rừng núi Việt bắc với nhiều kỷ niệm chung riêng, tập thơ “Việt Bắc” (1946-1954) được xuất bản.

Hòa bình lập lại, Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Miền Nam đấu tranh thống nhất đất nước. Tập thơ Gió lộng (1955 – 1961) ra đời.

Năm 1958 Tố Hữu được bầu vào Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ đó cho tới 1980, Ông lần lượt giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt trên mặt trận tư tưởng, tuyên truyền, văn hóa: Trưởng ban Tuyên huấn, Trưởng ban Khoa giáo, Trưởng ban Thống nhất, Hiệu trưởng trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (nay là Học viện Chính trị Quốc gia),…

Khúc ca chiến đấu hào sảng, thiết tha – tập “Ra trận” (1965- 1971) ra mắt bạn đọc.

2/9/1969 Hồ Chủ tịch qua đời. Tố Hữu viết bài “Bác ơi” ngay trong đêm đó. Cũng năm đó, Tố Hữu bị bệnh nặng. Tưởng khó qua khỏi, Ông đã gấp rút sáng tác bản trường ca Theo chân Bác (1970).

Tháng 3/1973 Tố Hữu cùng đoàn cán bộ Tổng cục Hậu cần xuyên Trường Sơn vào Nam nghiên cứu tình hình, chuẩn bị cho kế hoạch giành toàn thắng.

Tháng 5/1975 chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, đất nước hoàn toàn giải phóng. Tập thơ „Máu và Hoa“ (1971- 1977) được xuất bản.

Tại Đại hội Đảng toàn  quốc lần thứ 4 (1976) Tố Hữu được bầu vào Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung Ương Đảng và giữ cương vị phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Bộ trưởng (1981-1986). Từ 1986, Ông làm Trưởng ban soạn thảo chiến lược kinh tế – xã hội của Đảng và Chính phủ.

Hai tập thơ „Một tiếng Đờn“ (1977-1992) và “Ta với ta” ( 1993-2002) là những suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời và thế sự của Tố Hữu. Bên cạnh các tập thơ, Tố Hữu để lại một di sản không nhỏ trên nhiều lĩnh vực : tư tưởng, văn hóa, lý luận văn học,…

 

Tám mươi hai năm mà Tố Hữu đã sống là Cuộc đời của một Chiến sỹ Cách mạng sớm  dấn thân vào cuộc đấu tranh giải phóng đất nước và của một Nhà thơ lớn với những vần thơ làm rung động bao nhiêu thế hệ. Để ghi nhận những đóng góp to lớn của Tố Hữu, Đảng và Chính  phủ đã trao tặng Ông : Huân chương Sao Vàng (1994), Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1 – 1996), Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng (1997) và nhiều phần thưởng cao quí khác.